Hạ tầng số và nhân lực: Nền tảng đánh giá sự phát triển một khu công nghiệp công nghệ cao
Sức hút của khu công nghiệp công nghệ cao không chỉ đến từ quỹ đất và hạ tầng kỹ thuật, mà còn phụ thuộc vào chất lượng kết nối số, nguồn điện ổn định, năng lực nghiên cứu và đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại.
Trong xu hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao, các khu công nghiệp (KCN) đang đứng trước yêu cầu hoàn thiện hệ sinh thái phục vụ sản xuất, thay vì chỉ cung cấp mặt bằng và hạ tầng cơ bản. Đối với những ngành như điện tử, bán dẫn, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học, khả năng duy trì hoạt động liên tục, xử lý dữ liệu và tiếp cận nguồn nhân lực chuyên môn có vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư.
Theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, KCN công nghệ cao được xác định theo định hướng thu hút dự án công nghệ cao, công nghệ thông tin, hoạt động chuyển giao công nghệ, cơ sở ươm tạo và những dự án thuộc phạm vi quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phân biệt loại hình KCN công nghệ cao theo quy định với cách gọi mang tính quảng bá của một dự án.
Đối với nhà đầu tư, tên gọi hay định hướng thu hút ngành công nghệ cao mới chỉ là cơ sở tìm hiểu ban đầu. Năng lực tiếp nhận nhà máy thông minh phải được đánh giá thông qua điều kiện hạ tầng số, cấp điện, nghiên cứu – phát triển (R&D), đào tạo và mạng lưới nhà cung ứng tại địa điểm dự kiến.

Hạ tầng đồng bộ là nền tảng thu hút các dự án sản xuất công nghệ cao vào khu công nghiệp. Ảnh: Báo Chính phủ
Theo Chiến lược hạ tầng số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 9/10/2024, Việt Nam định hướng phát triển đồng bộ hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và các nền tảng phục vụ kinh tế số.
Đây là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ số. Trong nhà máy thông minh, dữ liệu từ cảm biến, thiết bị sản xuất và hệ thống quản lý được kết nối để theo dõi hoạt động, phát hiện bất thường và tối ưu quy trình theo thời gian thực.
Vì vậy, khi đánh giá hạ tầng số tại KCN, doanh nghiệp cần quan tâm đến khả năng cung cấp kết nối cáp quang, băng thông thực tế, độ trễ, độ ổn định và phương án dự phòng khi xảy ra gián đoạn. Đặc biệt, hai tuyến kết nối được giới thiệu là dự phòng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được kiểm tra về mức độ độc lập của đường truyền và hạ tầng sử dụng chung.
Cùng với viễn thông, nguồn điện ổn định là điều kiện thiết yếu đối với sản xuất công nghệ cao. Các dây chuyền tự động hóa, hệ thống điều khiển và thiết bị chính xác có thể chịu ảnh hưởng lớn từ sự cố mất điện hoặc biến động chất lượng điện năng.
Do đó, hồ sơ KCN cần làm rõ nguồn cấp điện, công suất hiện hữu, năng lực mở rộng, độ tin cậy cấp điện và các phương án dự phòng. Đối với dự án yêu cầu vận hành liên tục, doanh nghiệp còn phải xác định giải pháp lưu điện, nguồn điện dự phòng và thời gian khôi phục phù hợp với dây chuyền của mình.

Khu công nghiệp thuộc tổ hợp DEEP C ở Hải Phòng hướng tới phát triển hệ thống hạ tầng điện ứng dụng công nghệ cao. Ảnh: Nguyên Giáp
Tại các KCN thuộc tổ hợp DEEP C ở Hải Phòng, đơn vị phát triển giới thiệu hệ thống hạ tầng điện ứng dụng công nghệ giám sát, điều khiển thông minh, trong đó có SCADA, nhằm hỗ trợ quản lý và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện. Đây là ví dụ về việc ứng dụng công nghệ vào hệ thống tiện ích thiết yếu của khu công nghiệp.
Trong khi đó, trung tâm dữ liệu và dịch vụ điện toán đám mây đóng vai trò hỗ trợ lưu trữ, xử lý, phân tích dữ liệu sản xuất. Tuy nhiên, KCN không nhất thiết phải có trung tâm dữ liệu đặt ngay trong ranh giới mới đáp ứng nhu cầu nhà máy thông minh. Khả năng tiếp cận hạ tầng dữ liệu bên ngoài, chất lượng kết nối, yêu cầu bảo mật và phương án khôi phục hệ thống mới là những yếu tố cần được đánh giá theo từng dự án.
Xem thêm: Yêu cầu hạ tầng điện đối với Khu công nghiệp: Từ quy hoạch đến năng lực cấp điện thực tế
Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật, khả năng tiếp cận hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển là yếu tố quan trọng đối với những dự án cần đổi mới công nghệ, cải tiến sản phẩm hoặc triển khai quy trình sản xuất phức tạp.
Theo Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 tại Quyết định số 1018/QĐ-TTg, Việt Nam định hướng phát triển đồng bộ hoạt động nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đóng gói và kiểm thử bán dẫn, gắn với phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghiệp.
Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm và trung tâm R&D tại các vùng công nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận tri thức, thử nghiệm công nghệ và tuyển dụng nhân lực chuyên môn.
Tuy nhiên, khoảng cách địa lý đến cơ sở nghiên cứu chưa đủ để chứng minh một KCN sở hữu hệ sinh thái R&D hiệu quả. Yếu tố quan trọng hơn là khả năng hình thành hợp tác thực tế giữa doanh nghiệp và đơn vị nghiên cứu, bao gồm hoạt động phát triển sản phẩm, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ và đào tạo kỹ sư.
Đối với các KCN định hướng thu hút điện tử, bán dẫn, tự động hóa hoặc công nghệ sinh học, dữ liệu về phòng thí nghiệm, lĩnh vực nghiên cứu, năng lực thiết bị và chương trình hợp tác doanh nghiệp cần được xem xét cùng với cơ sở hạ tầng sản xuất.
Một ví dụ đáng chú ý là KCN Công nghệ cao Long Thành (Amata City Long Thành) tại Đồng Nai, có quy mô khoảng 410 ha, được định hướng thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao. Theo thông tin từ chủ đầu tư Amata, dự án phát triển quỹ đất công nghiệp cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tạo nền tảng tiếp nhận doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghiệp hiện đại.

KCN Công nghệ cao Long Thành (Amata City Long Thành) tại Đồng Nai được định hướng thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao. Ảnh: Cafeland
Tuy nhiên, định hướng thu hút công nghệ cao chưa đủ để khẳng định KCN đã hình thành hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển (R&D) hoàn chỉnh. Để đánh giá năng lực này, nhà đầu tư cần tiếp tục xác minh sự hiện diện của các cơ sở nghiên cứu, chương trình hợp tác với trường đại học, hoạt động chuyển giao công nghệ và khả năng cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho doanh nghiệp.
Nhân lực là một trong những yếu tố quyết định năng lực thu hút và duy trì các dự án sản xuất công nghệ cao. Khác với nhiều ngành thâm dụng lao động, doanh nghiệp điện tử, bán dẫn và tự động hóa có yêu cầu cụ thể về kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia vận hành thiết bị và đội ngũ quản lý sản xuất.
Theo Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn. Chương trình tập trung vào các công đoạn thiết kế vi mạch, đóng gói, kiểm thử và từng bước phát triển năng lực ở những khâu khác trong chuỗi giá trị.
Mục tiêu này phản ánh ưu tiên quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, nhưng không đồng nghĩa các KCN đã có sẵn lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu của mọi dự án bán dẫn.
Đối với nhà đầu tư, dữ liệu nhân lực cần được phân tích theo từng nhóm nghề và trình độ. Chẳng hạn, một nhà máy điện tử cần kỹ thuật viên bảo trì, vận hành thiết bị và kiểm soát chất lượng, trong khi doanh nghiệp thiết kế vi mạch có thể ưu tiên kỹ sư điện tử, thiết kế số, kiểm thử và các chuyên ngành liên quan.
Bên cạnh số lượng lao động, doanh nghiệp cần xem xét quy mô tuyển sinh và tốt nghiệp theo ngành, khả năng đào tạo thực hành, kinh nghiệm làm việc, mức lương và khả năng tuyển dụng trong phạm vi đi lại phù hợp.
Đặc biệt, mối liên kết giữa KCN với trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực dài hạn. Những chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng, thực tập tại doanh nghiệp hoặc đào tạo lại lao động giúp thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức và yêu cầu vận hành dây chuyền sản xuất.
Các chiến lược quốc gia về hạ tầng số, công nghiệp bán dẫn và đào tạo nhân lực tạo cơ sở định hướng phát triển, nhưng không thay thế dữ liệu về điều kiện vận hành tại từng KCN.
Để đánh giá năng lực tiếp nhận dự án, nhà đầu tư cần xem xét đồng thời hạ tầng viễn thông, nguồn điện và phương án dự phòng, khả năng tiếp cận R&D, nguồn đào tạo, mạng lưới nhà cung ứng và dữ liệu thị trường lao động.
Mỗi nhóm thông tin cần có nguồn cung cấp, thời điểm cập nhật và phạm vi áp dụng rõ ràng. Chẳng hạn, công suất điện thiết kế phải được phân biệt với khả năng cung cấp thực tế; dữ liệu viễn thông cần thể hiện mức độ dự phòng; trong khi thông tin nhân lực phải phản ánh kỹ năng và chuyên ngành phù hợp với nhu cầu tuyển dụng.
Việc chuẩn hóa các dữ liệu này giúp doanh nghiệp so sánh địa điểm đầu tư, đánh giá rủi ro vận hành và xác định khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất trước khi triển khai dự án.
Nhìn tổng thể, sức cạnh tranh của KCN công nghệ cao không chỉ nằm ở vị trí, quy mô hay tên gọi, mà được quyết định bởi mức độ đồng bộ giữa hạ tầng số, năng lượng, nghiên cứu, đào tạo và chuỗi cung ứng kỹ thuật. Khả năng chứng minh những lợi thế này bằng dữ liệu minh bạch, cập nhật sẽ là cơ sở quan trọng để thu hút các dự án công nghệ cao trong dài hạn.
Xem thêm: Đánh giá Khu công nghiệp xanh: Từ mục tiêu môi trường đến dữ liệu vận hành